biện pháp giáo dục lứa tuổi thiếu niên
Lời giải: Việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội giúp họ rời xa, cách li khỏi môi trường đang sống, tạo cho họ sống trong môi trường nền nếp, kỉ luật, được học tập, giáo dục, lao động phù hợp với lứa
Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm Đề tài: Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên Giảng viên : ThS. Đỗ Dung Hòa Sinh viên : Nguyễn Thanh Tâm Lớp : K48 sư phạm ngữ văn Hà Nội 9/ 2005 I. MỞ ĐẦU
Vì vậy, để tránh xảy ra xung đột, người lớn cần có sự hiểu biết về tâm sinh lý lứa tuổi thiếu niên, gương mẫu, khéo léo, tế nhị trong ứng xử. Đồng thời, cũng cần phải giáo dục thiếu niên để các em biết, hiểu và cảm thông với người lớn nhiều hơn.
Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd Asideway. Tài liệu "Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên" có mã là 287108, file định dạng zip, có 19 trang, dung lượng file 28 kb. Tài liệu thuộc chuyên mục Luận văn đồ án > Khoa học xã hội > Tâm lý học. Tài liệu thuộc loại ĐồngNội dung Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niênTrước khi tải bạn có thể xem qua phần preview bên dưới. Hệ thống tự động lấy ngẫu nhiên 20% các trang trong tài liệu Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên để tạo dạng ảnh để hiện thị ra. Ảnh hiển thị dưới dạng slide nên bạn thực hiện chuyển slide để xem hết các lưu ý là do hiển thị ngẫu nhiên nên có thể thấy ngắt quãng một số trang, nhưng trong nội dung file tải về sẽ đầy đủ 19 trang. Chúng tôi khuyễn khích bạn nên xem kỹ phần preview này để chắc chắn đây là tài liệu bạn cần preview Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niênNếu bạn đang xem trên máy tính thì bạn có thể click vào phần ảnh nhỏ phía bên dưới hoặc cũng có thể click vào mũi bên sang trái, sang phải để chuyển nội dung sử dụng điện thoại thì bạn chỉ việc dùng ngón tay gạt sang trái, sang phải để chuyển nội dung slide. Click vào nút bên dưới để xem qua nội dung tài liệu Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên sử dụng font chữ gì?File sử dụng loại font chữ cơ bản và thông dụng nhất Unicode hoặc là TCVN3. Nếu là font Unicode thì thường máy tính của bạn đã có đủ bộ font này nên bạn sẽ xem được bình thường. Kiểu chữ hay sử dụng của loại font này là Times New Roman. Nếu tài liệu Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên sử dụng font chữ TCVN3, khi bạn mở lên mà thấy lỗi chữ thì chứng tỏ máy bạn thiếu font chữ này. Bạn thực hiện tải font chữ về máy để đọc được nội thống cung cấp cho bạn bộ cài cập nhật gần như tất cả các font chữ cần thiết, bạn thực hiện tải về và cài đặt theo hướng dẫn rất đơn giản. Link tải bộ cài này ngay phía bên phải nếu bạn sử dụng máy tính hoặc phía dưới nội dung này nếu bạn sử dụng điện thoại. Bạn có thể chuyển font chữ từ Unicode sang TCVN3 hoặc ngược lại bằng cách copy toàn bộ nội dung trong file Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên vào bộ nhớ đệm và sử dụng chức năng chuyển mã của phần mềm gõ tiếng việt Unikey. Từ khóa và cách tìm các tài liệu liên quan đến Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niênTrên Kho Tri Thức Số, với mỗi từ khóa, chủ đề bạn có thể tìm được rất nhiều tài liệu. Bạn có thể tham khảo hướng dẫn sau đây để tìm được tài liệu phù hợp nhất với bạn. Hệ thống đưa ra gợi ý những từ khóa cho kết quả nhiều nhất là Phân tích quan hệ, hoặc là Phân tích quan hệ tìm được nội dung có tiêu đề chính xác nhất bạn có thể sử dụng Phân tích quan hệ giao tiếp, hoặc là Phân tích quan hệ giao tiếp nhiên nếu bạn gõ đầy đủ tiêu đề tài liệu Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên thì sẽ cho kết quả chính xác nhất nhưng sẽ không ra được nhiều tài liệu gợi có thể gõ có dấu hoặc không dấu như Phan tich quan he, Phan tich quan he giao, Phan tich quan he giao tiep, Phan tich quan he giao tiep va, đều cho ra kết quả chính xác. lứa tuổi đẹp cho Phân tích quan hệ giao tiếp và Phân tích quan hệ giao tiếp bạn tốt Phân tích quan hệ tốt thiếu lứa niên dục tình pháp giáo giao thiếu niên đẹp và biện tiếp hệ Phân tích quan hệ giao cho quan hệ biện giao tiếp bạn Phân quan tích Phân tích giáo Phân tích pháp và Phân tích quan tình dục tuổi Các chức năng trên hệ thống được hướng dẫn đầy đủ và chi tiết nhất qua các video. Bạn click vào nút bên dưới để xem. Có thể tài liệu Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên sử dụng nhiều loại font chữ mà máy tính bạn chưa có. Bạn click vào nút bên dưới để tải chương trình cài đặt bộ font chữ đầy đủ nhất cho bạn. Nếu phần nội dung, hình ảnh ,... trong tài liệu Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên có liên quan đến vi phạm bản quyền, bạn vui lòng click bên dưới báo cho chúng tôi biết. Gợi ý liên quan "Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên" Click xem thêm tài liệu gần giống Chuyên mục chứa tài liệu "Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên" Tài liệu vừa xem Phân tích quan hệ giao Phân tích quan Phân tích quan hệ Phân tích quan hệ giao tiếp và Phân tích quan hệ giao tiếp Phân tích
ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ LỨA TUỔI TIỂU HỌC I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI TIỂU HỌC Tâm lí học lứa tuổi bao gồm nhiều lĩnh vực nghiên cứu cụ thể với tư cách là các phân ngành của Tâm lí học phát triển – Tâm lí học về đời sống thai nhi trong bụng mẹ. – Tâm lí học tuổi hài nhi. – Tâm lí học tuổi mầm non. – Tâm lí học học sinh tiểu học. – Tâm lí học tuổi thiếu niên. – Tâm lí học người trưởng thành. - Tâm lí học người già. Tâm lí học lứa tuổi tiểu học là một ngành Tâm lí học nghiên cứu những đặc điểm tâm lí, các quy luật, các điều kiện, động lực phát triển tâm lí ở lứa tuổi tiểu học, những biến đổi của các quá trình tâm lí, các phẩm chất tâm lí trong sự hình thành, phát triển nhân cách trẻ em tuổi tiểu học. Tâm lí học lứa tuổi tiểu học chỉ ra các đặc điểm tâm lí của con người được hình thành và phát triển trong từng giai đoạn lứa tuổi và trong suốt cuộc đời, những quy luật hình thành và biểu hiện tâm lí trẻ em ở giai đoạn phát triển tâm lí tiểu học, chỉ ra các điều kiện, động lực của sự phát triển tâm lí ở lứa tuổi này. Tâm lí học lứa tuổi tiểu học cung cấp cơ sở tâm lí lứa tuổi cho việc xây dựng các nguyên tắc, phương pháp, biện pháp dạy học và giáo dục phù hợp đặc điểm và quy luật tâm lí lứa tuổi tiểu học, tổ chức hợp lí quá trình sư phạm nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học và giáo dục ở Tiểu học. Tâm lí học lứa tuổi tiểu học không những cung cấp cơ sở tâm lí cho giáo viên tiểu học trong hoạt động sư phạm của mình mà còn giúp giáo viên tiểu học, các nhà giáo dục ở bậc học này có phương pháp đối xử khéo léo sư phạm với giáo viên, học sinh và tự rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân để làm tốt vai trò người giáo viên trong sự nghiệp trồng người. Các em học ở trường tiểu học, hay còn gọi là tuổi Nhi đồng, lứa tuổi đầu tuổi học. Đến trường thực hiện hoạt động học tập là bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ ở lứa tuổi này. Giờ đây các em đã trở thành một học sinh thực sự, học tập là nhiệm vụ quan trọng nhất giúp các em tích lũy kiến thức. Khi đến trường, các em bước vào những mối quan hệ mới và phức tạp hơn quan hệ với thầy Tâm lý học lứa tuổi _ Chương 3 Tâm lý học lứa tuổi tiểu1 học cô giáo, với bạn bè. Trong môi trường hoạt động mới sẽ tạo ra cho các em một thế giới nội tâm phong phú. Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh nhỏ. Thời kì này ở trẻ phát triển mạnh về nhận thức, tình cảm – ý chí – ý thức – nhân cách. II. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ LỨA TIỂU HỌC 1. Đặc điểm về mặt cơ thể - Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển thời kỳ cốt hoá nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,…Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô sau đây xin gọi chung là các nhà giáo dục cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn. - Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,…Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ. - Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng. Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,…Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em. 2. Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống Hoạt động của học sinh tiểu học - Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như + Hoạt động vui chơi Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang các trò chơi vận động. + Hoạt động lao động Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,…Ngoài ra, trẻ còn còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,… + Hoạt động xã hội Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,… Những thay đổi kèm theo Tâm lý học lứa tuổi _ Chương 3 Tâm lý học lứa tuổi tiểu2 học - Trong gia đình các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình. Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn,…các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ. - Trong nhà trường do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập. Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt. - Ngoài xã hội các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình. Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình. Biết được những đặc điểm nêu trên thì cha mẹ và thầy cô phải tạo điều kiện giúp đỡ trẻ phát huy những khả năng tích cực của các em trong công việc gia đình, quan hệ xã hội và đặc biệt là trong học tập. 3. Đặc điểm của quá trình nhận thức Tri giác Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng – Tri giác có chủ định trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,… Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác. Chú ý Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,…Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập. Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài,…Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định. Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian. Chú ý áp dụng linh động theo từng độ Tâm lý học lứa tuổi _ Chương 3 Tâm lý học lứa tuổi tiểu3 học tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ. Trí nhớ Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – lôgic Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu. Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em… Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức. Tư duy Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động. Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học. Tưởng tượng Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi. Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,…. Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em. Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện. Tâm lý học lứa tuổi _ Chương 3 Tâm lý học lứa tuổi tiểu4 học Ngôn ngữ Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau. Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ. Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng,….đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí,…Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng. Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường thay đổi đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 – 35 phút. Chuyển từ hiếu kỳ,tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết,…Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học. 4. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học Tính cách Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn…Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ. Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình. Tâm lý học lứa tuổi _ Chương 3 Tâm lý học lứa tuổi tiểu5 học Hiểu được những điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo tuyệt đối không được "chụp mũ" nhân cách của trẻ, trái lại phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà không đâu xa, chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân cách ấy. Xúc cảm – Tình cảm Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,…Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư… Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều. Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học,…khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ. Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,… III. CÁC ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ TIỂU HỌC ĐẶC TRƯNG 1. Các em luôn có sự mặc cảm Tự bẩm sinh, các em đã mang mặc cảm Edipe le complexe d’Edipe . Thầần tho ại Hy-l ạp k ể rằầng Edipe, do cu ộc đ ời oan nghiệt đưa đẩy, đã ngộ sát cha mình là Laios để lên ngôi vua và c ưới luôn m ẹ là Jocaste làm hoàng h ậu... Các nhà Tầm lý học mượn điển tch này để diêễn tả hiện t ượng tầm lý b ẩm sinh ph ổ biêến n ơi l ứa tu ổi thiêếu nhi. Các em luôn tm sự gầần gũi, yêu th ương, chiêầu chu ộng c ủa ng ười l ớn khác phái bé gái gầần bôế mà xa m ẹ, còn bé trai l ại gầần mẹ xa bôế. Đầy không phải là một tội lôễi ghê g ớm đáng lên án và nghiêm ph ạt nh ư cách nghĩ thi ển c ận c ủa m ột sôế người chủ trương đạo đức quá khằết khe cổ hủ. Cầần phải biêết khéo hướng dầễn để giúp các em t ừ t ừ nhận ra s ự cầần thiêết ph ải có đ ủ các tnh cách giáo d ục qua c ả bôế lầễn mẹ, anh và chị trong gia đình, cả thầầy lầễn cô ở tr ường, ở l ớp. Sau này, khi b ước vào tu ổi d ậy thì, các em seễ dầần dầần chuyển hóa sang thêế quần bình vêầ phái tnh. Nêếu người lớn quá khằếc nghiệt hoặc lơi l ỏng thiêếu quan tầm, có th ể seễ gầy ra n ơi các em nh ững ầến t ượng l ệch l ạc, di hại suôết đời các em vêầ mặt nhần cách tầm lý và ứng xử. Ng ược lại, cầần bằếc m ột nh ịp cầầu hêết s ức têế nh ị đ ể g ặp g ỡ chính tầm hôần bé bỏng non nớt của các em, biêết m ở chuy ện h ỏi han các em bằầng ngôn ng ữ và cung cách c ủa chính các em. Khi đó, các em mới dêễ bộc lộ một cách hôần nhiên nh ững tầm s ự, nh ững "bí m ật" có khi rầết ngô nghê c ủa các em, mà không hêầ e dè, giầếu giêếm, sợ người lớn la rầầy, kêết t ội hoặc chêế giêễu. Tâm lý học lứa tuổi _ Chương 3 Tâm lý học lứa tuổi tiểu6 học Ở điểm này, các em cầần có người yêu thương, chằm sóc, ần cầần t ận t ụy và tnh têế nh ạy c ảm, nằếm bằết cho đ ược m ọi biểu hiện tch cực lầễn têu cực nơi các em. 2. Các em tin tưởng người lớn tuyệt đối Các em đã dần dần không còn muốn loanh quanh luẩn quẩn ở xó nhà góc bếp, nhưng bắt đầu thích làm quen nhiều bạn nhỏ và nhiều người lớn khác. Vì vậy, nếu các em nhận ra nơi các người lớn như cô chú, thầy cô giáo, anh chị... một sự bảo bọc chở che, nhất là sự quan tâm, cảm thông thật sự, các em sẽ dần dần quấn quít, tin cậy đến mức tuyệt đối. Hãy tránh đừng bao giờ đùa chơi với các em bằng cách xí gạt để các em mắc lừa cho vui. Cũng đừng bao giờ tạo cho các em cảm tưởng bị người lớn áp đặt, ăn hiếp, lấn lướt, sai bảo vặt và khống chế các em bằng luật lệ mà chính người lớn chưa chắc đã tuân thủ đàng hoàng. Do vậy, thông qua những hoạt động về giáo dục, làm việc, sinh hoạt vui chơi, người lớn cần biết tạo ra cơ hội để gần gũi các em, xóa bỏ mọi ngăn cách về tuổi tác và tâm lý, hòa mình trở nên đơn sơ như trẻ nhỏ, biết cách gợi ý tổ chức cùng chơi, cùng làm với các em, từ đó mới có dịp để giúp đỡ, dạy dỗ các em một cách đầy đủ và kịp thời. Bên cạnh đó, cũng cần kích thích cho các em luôn háo hức chịu làm quen thêm với nhiều bạn trai bạn gái mới đồng trang lứa ở trường lớp và khu xóm. Ở điểm này, người sống với các em phải là một quản trò đa năng, biết biến báo, lôi cuốn, trang bị nhiều kỹ năng thành thạo, thu hút được đám đông các em, đồng thời lại có vốn liếng kinh nghiệm về tâm lý để có thể tiếp cận mà lắng nghe và đối thoại với từng em. 3. Các em ôm ấm nhiều giấc mơ Các em rất giàu trí tưởng tượng, nhiều khi quá tin vào những điều huyền hoặc, những truyện cổ tích thần tiên, những truyện thần thoại dân gian được kể trong các lớp học hoặc trước khi đi ngủ buổi tối. Từ đó các em tự thêu dệt những mơ mộng rất dễ thương đến bất ngờ. Sau này, lớn hơn một chút, tính thần thoại chuyển dần sang khía cạnh thần tượng hóa một cách đơn giản. Khi các em được tiếp xúc thân tình với một người lớn nào đó có nhân cách cao thượng, các em sẽ nhanh chóng hình thành các ước mơ sẽ có được nhân cách ấy ví dụ "Lớn lên em sẽ làm cô giáo như cô..."; "Mai mốt con sẽ đi tu như cha..."; "Em sẽ là một Ronaldo của Việt Nam..." . Do đó, nếu người lớn biết khéo nương theo trí tưởng tượng và những mơ mộng hồn nhiên trong sáng của các em, có thể hướng dẫn các em dần dần gạn lọc đi những nét viễn vông huyền hoặc để chuyển những giá trị tốt đẹp hiện thực nơi nhân cách các em. Bước đầu thấu hiểu được những nhu cầu khát vọng ngây thơ của các em rồi, vẫn chưa đủ, bởi tính khí các em luôn bị đột biến, thay đổi hoặc bị tổn thương. Do vậy, ngoài việc hòa mình cùng chơi, cùng trò chuyện với các em, người lớn còn cần khéo léo tạo sức thu hút lâu dài bền bỉ, bằng cách lồng các hoạt động tập thể vào các trò chơi học và làm mà là chơi, chơi mà lại là học và làm một cách hữu ích . Đồng thời, cũng đừng quên tiếp xúc riêng từng em, giúp các em tập nỗ lực nho nhỏ để vươn lên trong từng khát vọng, từng ước mơ hồn nhiên của chính mình, mỗi ngày một chút theo phương pháp giáo dục tiệm tiến. Tâm lý học lứa tuổi _ Chương 3 Tâm lý học lứa tuổi tiểu7 học Ở điểm này, người sống với các em phải là một người bạn trẻ trung, tâm huyết, đáng tin cậy trong mọi mặt sinh hoạt vui nhộn cũng như tâm linh sâu lắng của các em. 4. Các em rất đa cảm, dễ xức động Tâm hồn các em còn hết sức trong sáng hồn nhiên như trang giấy còn mới tinh. Ngay cả trường hợp một số em phải chịu những di chứng do sự đổ vỡ trong gia đình, thì chắc chắn tâm hồn các em vẫn luôn luôn đa cảm, rất dễ bị xúc động. Do đó, bất cứ hành động thô bạo nào đối với chính bản thân các em, đối với các em khác, đối với súc vật và đối với thiên nhiên đều gây tổn thương nơi các em, để lại trong tâm trí các em vết sẹo không bao giờ phai nhạt. Cần tránh cho các em phải đối mặt với những nghịch cảnh và bất hạnh, những thực tế quá phũ phàng, những hình ảnh dã man bạo lực trên sách báo, truyền hình, những biến cố quá gay cấn ngoài đường phố, trong gia đình, nơi trường học. Riêng với các câu truyện kể, cần nhớ rằng một nội dung quá bi lụy thương tâm có thể gợi ra nơi các em lòng trắc ẩn nhân ái, nhưng cũng có thể âm thầm hình thành trong tiềm thức và vô thức của các em tính hiếu chiến, hiếu sát, thích trả đũa, nhẫn tâm, hoặc ngược lại, sự mủi lòng ủy mị, mau nước mắt vì quá sức đa sầu đa cảm. Mặt khác, bên cạnh sự đa cảm, các em vẫn còn thiên nhiều về giác quan, thích sờ tận tay nhìn tận mắt, nên các em rất vui thích khi được thưởng cụ thể bằng vật chất hơn là khen ngợi tuyên dương suông suông vậy thôi. Các em rất hãnh diện thấm thía khi được người lớn khéo léo góp ý khích lệ hơn là phê bình chê trách hay nổi cáu lên quát tháo om sòm. Chúng ta thấy, nhà trường đã từng áp dụng những cách khen thưởng khá cụ thể như các bông hoa điểm 10 cho từng môn học, sách truyện làm phần thưởng cuối năm. Bản thân chúng ta khi còn bé, hẳn ai cũng đã từng ao ước hoặc hãnh diện khi thấy tên mình được ghi trên Bảng Danh Dự treo tại một nơi trang trọng và dễ thấy ở trường. Còn Sổ Học Bạ hoặc Sổ Liên Lạc thì không ai muốn cha mẹ mình lại phải đọc thấy những giòng chữ thầy cô chủ nhiệm phê xấu và yếu kém. Do vậy, đây là những cách khen thưởng có vẻ vật chất nhưng lại hàm ý về chiều sâu tinh thần nhiều lắm... Ở lứa tuổi này, người sống với các em phải là một "bề trên" hiểu theo nghĩa rộng nhất, nghiêm minh mà quảng đại, công bình mà bao dung, vẫn luôn đòi hỏi cao mà lại biết khích lệ nâng đỡ. 5. Các em rất hiếu động Năng lực ở độ tuổi đang tăng trưởng nơi các em luôn dồi dào. Bên cạnh đó, các em cũng đang trải qua một cơn khủng hoảng về trí tuệ, còn gọi là khủng hoảng về ý thức cử động idée motrice . Về mặt sinh hoạt thể lý, các em, kể cả các bé gái, cần phải luôn tay luôn chân, chạy nhảy, leo trèo, nô đùa và hò hét thỏa thích, hoặc im lặng ngồi táy máy, hì hục nghịch phá một trò nào đó, hay làm một việc gì đó vừa sức mình. Riêng bên nam, các em rất thích các trò chơi đối kháng, mang tính giao chiến và đua tranh giữa hai phe ví dụ kéo co, cướp cờ, đánh trận giả.... Các em sẵn sàng chơi hăng say hết mình, bởi đối với các em, chuyện thắng thua rất là quan trọng, nó nhằm mục đích tự khẳng định cá tính cho dù các em chưa đủ lý luận cao xa gì lắm về bản thân. Với các em nữ, vấn đề cũng tương tự như khi các em đặc biệt thích các trò chơi tuy nhẹ nhàng hơn con trai, nhưng cũng là chuyện luân phiên thi đua giành phần thắng cho mình ví dụ nhảy cò cò, đánh chuyền, nhảy Tâm lý học lứa tuổi _ Chương 3 Tâm lý học lứa tuổi tiểu8 học lèo, chơi ô ăn quan.... Trong thực tế, người lớn đang bận việc, rất ghét sự ồn ào náo động, lại cho rằng các em đang chơi những trò quá hiếu động, có hại về sức vóc lẫn tâm lý, nên thường la rầy ngăn cấm các em. Người lớn không ngờ đã đẩy các em sớm rơi vào tình trạng dồn nén, có thể tạo ra những tình cảm rối loạn, rất có hại về lâu về dài. Về sinh hoạt học tập, các em cũng rất dễ hào hứng để cho cuốn theo các ý tưởng, các kiến thức lý thú mới lạ, để không ngừng đặt ra các câu hỏi tò mò thắc mắc. Một khi nơi các em lý trí bắt đầu hoạt động âm thầm, các ý tưởng như thế dần dần sáng tỏ ra, cho dù các em chưa thể lý luận suy diễn theo dạng đặt vấn đề "vì vậy", "cho nên", "do đó" như người lớn... Nhưng mặt khác, các em đã không còn thỏa mãn với dạng câu hỏi "tại sao?" mà đã chuyển dần sang câu hỏi khó hơn nhiều "làm thế nào ?" tức là có khuynh hướng khách quan hơn, sâu xa hơn. Dù vậy, các em chưa thể tập trung tư tưởng lâu để kịp phân tích vấn đề và quan sát một cách kiên nhẫn, các em cũng chưa thể tự mình biết cách học hỏi sao cho đúng mức nếu không được người lớn hướng dẫn dưới dạng "học mà chơi" đầy hấp dẫn. Ở điểm này, người sống với các em phải là một thầy giáo, một cô giáo vừa có kiến thức quảng bác, lại vừa có tâm hồn sâu sắc để truyền đạt tri thức, gợi mở sáng kiến và nhất là vun đắp cho các em những tâm tình nhân ái vị tha, vui tươi và dễ thương, đúng với độ tuổi các em. 6. Các em có thể trung tín đến cùng Khi gặp một hoàn cảnh đặc biệt hoặc trong một trường hợp bất ngờ, nếu các em được người lớn tin cậy trao phó một trách nhiệm quan trọng nào đó, với lời giải thích kỹ lưỡng và căn dặn chi tiết, các em sẽ hết sức ý thức về công việc, cảm thấy vinh dự và hãnh diện để cố gắng chu toàn hơn cả mong đợi của người lớn. Ấn tượng sâu sắc này sẽ theo các em suốt cuộc đời, hình thành một nhân cách khó gì có thể làm biến dạng. Hiểu được điều này, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy các phong trào giáo dục đứng đắn trên thế giới đều có những nghi thức tập tục rất long trọng như đội mũ, trao cờ, tuyên hứa thiếu nhi, thắt khăn quàng, gắn sao... Tại trường học, có nơi, nếu biết huấn luyện tinh thần và kỹ thuật tới nơi tới chốn, người lớn có thể tin tưởng giao phó cho các em ở các lớp tiểu học đảm nhận chuẩn bị âm thanh, xếp đội hình danh dự, kéo cờ, bắt nhịp và đồng ca bài quốc ca mà không sợ gặp sự cố trục trặc, bởi các em ý thức khá chững chạc về tính cách quan trọng và trang nghiêm của công việc cùng với niềm hãnh diện được đại diện cho toàn trường. Như vậy, ở điểm này, người sống với các em phải là một Người Lãnh Đạo leader đúng nghĩa, biết cách huấn luyện, chỉ dẫn cho các em thành thạo, tháo vát trong các việc nhỏ, vừa tầm hiểu, vừa sức làm của các em mà lại có tầm quan trọng không thua gì việc của người lớn, sau đó, biết mạnh dạn tin tưởng trao phó công việc đó để các em tự chơi, tự làm, tự giải quyết trong khả năng của các em... IV. TÓM TẮT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂM TÂM LÝ LỨA TUỔI TIỂU HỌC Bé 5 tuổi đến 6 tuổi Dành nhiều thời gian trong năm học đầu tiên ở trường để học các nguyên tắc và các nội quy Tâm lý học lứa tuổi _ Chương 3 Tâm lý học lứa tuổi tiểu9 học của môi trường mới. Xấu hổ và thường hay khóc - bé có thể bám chặt lấy bạn. Học cách thực hiện các nhiệm vụ mới như buộc dây giầy. Làm quen với các kỹ năng cơ bản như đọc và viết. Bé 7 tuổi Bé vẫn đang làm quen dần với môi trường ở trường. Chơi thành từng nhóm nhỏ - các bạn trong nhóm thường cùng giới. Tiếp tục phát triển các kỹ năng đọc và viết cũng như bộ môn toán học cơ bản. Thích có một người bạn "cùng phe" sau giờ học. Ít khóc nhè hơn. Bé 8 tuổi Thích tìm hiểu về mọi thứ xung quanh trẻ. Quan tâm đến một số môn học này hơn các môn học khác. Bạn bè cùng trang lứa ảnh hưởng đến trẻ nhiều hơn. Thích chơi với các bạn cùng giới hơn. Bé 9 tuổi Biết nhận thức về bản thân hơn khi chơi trong nhóm. Muốn thay đổi để phù hợp với các bạn cùng lứa hơn. Bắt đầu chê bai quần áo và hành vi của cha mẹ. Tròng ghẹo và thảo luận về các vấn đề của bạn trai hay bạn gái. Quan tâm tới quần áo, kiểu tóc và cân nặng hơn. Bắt đầu có những thay đổi về cơ thể đặc biệt là các bé gái. Bé 10 tuổi Tiếp tục bị ảnh hưởng bởi các bạn cùng trang lứa. Biết xấu hổ. Chơi với các bạn khác giới nhiều hơn. Phát triển tình bạn bền lâu với bạn bè. Muốn độc lập hơn và bận tâm tới việc hoà nhập với xã hội. Trẻ 11 tuổi Tiếp tục bị ảnh hưởng bởi các bạn cùng trang lứa. Nhận thức hơn về vị trí của trẻ. Quan tâm tới các chấp nhận của xã hội. Quan tâm hơn tới các bạn khác giới. Tâm lý học lứa tuổi _ Chương 3 Tâm lý học lứa tuổi tiểu 10học Muốn được mọi người cư xử giống người lớn. Chỉ trích chính bản thân và người khác. Trẻ 12 tuổi Không thích bị coi như một đứa trẻ. Có những thay đổi chính về thể chất và tình cảm và cũng bắt đầu có nhận thức về giới tính. Bắt đầu tự ý thức và tự nhận thức về bản thân. Muốn khẳng định sự độc lập của trẻ. Thay đổi về thể chất Bé gái 12 tuổi đã hoặc sẽ bắt đầu có những thay đổi về cơ thể khá nhanh. Các bé trai thì phát triển muộn hơn các bé gái 2 năm. Các bé gái có thể dậy thì trong độ tuổi từ 8 hay 9 tuổi cho đến khi 16 hay 17 tuổi. Các bé trai thường dậy thì trong độ tuổi từ 12 đến 14 tuổi hoặc có thể muộn hơn. Trẻ 12 tuổi đang đứng trước ngưỡng tuổi vị thành niên, lứa tuổi có nhiều giấc mơ, lo lắng, mơ mộng và thất vọng. Tâm lý học lứa tuổi _ Chương 3 Tâm lý học lứa tuổi tiểu 11học
Hiện nay có nhiều phương pháp giáo dục sớm cho trẻ từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam. Điều này cũng khiến nhiều bậc phụ huynh đau đầu không biết nên chọn chương trình cũng như trường mầm non nào cho các bé. Để giúp bố mẹ hiểu về các phương pháp giáo dục nổi tiếng hiện nay, Edu2Review mời quý phụ huynh cùng tham khảo 5 mô hình được áp dụng nhiều nhất trong các trường mầm non quốc tế cũng như dạy học tại nhà của nhiều gia đình. Montessori – Phương pháp giúp trẻ phát triển cá nhân Maria Montessori 1870 – 1952 là tiến sĩ, bác sĩ và nhà giáo dục người Ý. Phương pháp giáo dục trẻ từ sớm Montessori được đặt theo tên của bà là kết quả của quá trình nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm làm bác sĩ của mình. Điểm nổi bật ở phương pháp Montessori là nhấn mạnh đến vai trò của tính tự lập và tự do trong khuôn khổ cho phép trong việc hình thành nhân cách ở trẻ. Montessori chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và cho phép các bé phát triển tùy theo khả năng và thời gian riêng của mình. Do đó việc tổ chức các lớp học theo mô hình này phải đảm bảo tôn trọng tính riêng biệt của từng trẻ và phải bố trí phòng học, bài học phù hợp những nhu cầu cũng như mục đích của mỗi em. Montessori hiện đang được áp dụng rộng rãi tại các trường mầm non quốc tế ở Việt Nam. Ngoài tôn trọng sự phát triển tâm sinh lý tự nhiên của trẻ, phương pháp này cũng giúp trang bị đầy đủ các kiến thức khoa học công nghệ tiến bộ và hiện đại cho học sinh. Học sinh hoàn thiện các kỹ năng cá nhân Nguồn Higher Ground Kích thích trí thông minh của trẻ cùng phương pháp Glenn Doman Glenn Doman là phương pháp giáo dục phổ biến trên thế giới. Phương pháp này không dạy cho trẻ biết đọc, viết hay phân biết đồ vật mà nhằm kích thích trí thông minh trong bộ não của trẻ thông qua Flashcard hay Dot card. Phương pháp giáo dục này do giáo sư Glenn Doman 1919 – 2013 sáng tạo và phát triển cùng với các cộng sự của mình tại Viện Nghiên cứu Thành tựu Tiềm năng Con người The Institutes for the Achievement of Human Potential – IAHP. Hiện nay, Glenn Doman được áp dụng phổ biến ở 180 quốc gia và cũng là phương pháp giáo dục trẻ từ sớm tại nhà duy nhất trong danh sách này. Không ép buộc các bé phải học, phương pháp giáo dục trẻ thông minh sớm này sẽ kích thích sự tò mò thông qua các tấm thẻ, công cụ vận động đi kèm. Đây được xem như trò chơi giúp các em thư giãn hằng ngày. Bộ thẻ Flashcard phục vụ cho phương pháp giáo dục Glenn Doman Nguồn Umit Nhiều nghiên cứu cho thấy, 1 người có thông minh hay không phần lớn được quyết định bởi việc phát huy chức năng não phải. Hơn 70% các nhà khoa học trên thế giới có ưu thế nằm ở não phải. Glenn Doman là phương pháp tập trung vào sự phát triển của não phải vì não phải có khả năng ghi được hình ảnh rất nhanh, chính xác, tự tin mà không cần ý thức và phân tích. Thông qua việc học và chơi với các tấm thẻ, khả năng ghi nhớ, phân tích, xử lý tư duy chính xác của não phải của trẻ sẽ dần được tăng lên. Bên cạnh đó, Glenn Doman còn là phương pháp kết nối giữa bố mẹ và con cái. Phụ huynh sẽ là người thầy đầu tiên của trẻ, cũng là người đồng hành cùng con trong việc tiếp nhận các bài học giáo dục trong tương lai. Phương pháp giáo dục giúp trẻ phát triển toàn diện Shichida Shichida là phương pháp giáo dục sớm cho trẻ bắt nguồn từ Nhật Bản, ra đời vào năm 1960. Phương pháp này được đặt tên theo tên người sáng lập – Giáo sư Makoto Shichida 1929 – 2009. Phương pháp giáo dục Shichida tập trung vào 4 yếu tố Phát triển trí óc, hướng đến sự phát triển cân bằng của hai bán cầu não. Giáo dục tinh thần, giúp trẻ có ý thức đạo đức từ sớm. Giáo dục thể chất thông qua những bài tập phù hợp với lứa tuổi giúp trẻ khỏe mạnh hơn. Giáo dục dinh dưỡng vì đây là 1 phần quan trọng cung cấp đầy đủ dưỡng chất, là nền tảng cho cơ thể trẻ phát triển. Dinh dưỡng quan niệm mới trong các phương pháp giáo dục sớm cho trẻ đang phát triển hiện nay. Phương pháp giáo dục Shichida giúp trẻ phát triển toàn diện Nguồn Shichida Education Institute Trẻ chủ động hơn với phương pháp HighScope Phương pháp giáo dục HighScope rất phổ biến tại Mỹ và các nước phương Tây, được sử dụng cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo và tiểu học từ năm 1960. Đến nay, HighScope đã trở thành một trong những mô hình giáo dục nổi tiếng thế giới được sử dụng rộng rãi trong các trường mầm non quốc tế. Phương pháp giáo dục sớm HighScope nhấn mạnh vào “cá nhân học tập chủ động”. Điều này có nghĩa trẻ sẽ tiếp thu tốt nhất khi chủ động tham gia vào quá trình học tập cũng như chủ động lựa chọn và làm theo kế hoạch của chính bản thân mình. Các em có thể tự xây dựng kho tàng kiến thức của riêng mình bằng cách tương tác với thế giới xung quanh. Với phương pháp này, người lớn chỉ đóng vai trò xác nhận lại những kiến thức và giúp trẻ mở rộng ở các cấp độ tiếp theo. Học sinh hứng thú với lớp học thực hành trong phương pháp HighScope Nguồn Trường Mầm non Song ngữ KIDZONE Trẻ học tư duy sáng tạo với phương pháp Reggio Emilia Phương pháp giáo dục này được đặt tên không phải dựa theo một chuyên gia giáo dục, nhà tâm lý học, bác sĩ nổi tiếng hay bất kỳ nhà khoa học nào. Reggio Emilia là tên của 1 thành phố nằm ở phía Bắc nước Ý. Nơi đây từng hứng chịu những hậu quả nặng nề cả về vật chất lẫn tinh thần sau chiến tranh thế giới thứ 2. Tuy nhiên, bằng tình yêu thương và niềm hy vọng vào thế hệ tiếp theo, dù không có trường học hay giáo án, các ông bố, bà mẹ đã luôn đồng hành cùng con trẻ trong quá trình khám phá. Họ cùng con mình tự đặt ra câu hỏi và tìm hiểu đáp án, học tập từ những tình huống thực tế trong cuộc sống. Với nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm, phương pháp Reggio Emilia tạo cho trẻ không gian tự chủ khám phá, tìm tòi, đặt câu hỏi và tự đề xuất phương án giải quyết. Trong khi thực hiện công việc của mình, các em sẽ có hàng trăm cách suy nghĩ và ngôn ngữ biểu hiện khác nhau. Do đó, quyền tự do chọn lựa chủ đề học tập, cách biểu đạt và ý kiến cá nhân của trẻ cần được tôn trọng và khai phá tối đa. Trẻ có thể sáng tạo thế giới của riêng mình với phương pháp Reggio Emilia Nguồn Ơi Việt Nam Những phương pháp giáo dục sớm cho trẻ đều có chung mục đích là giúp các bé phát triển tối đa với tiềm năng sẵn có cả về trí tuệ, cảm xúc lẫn thể chất. Bố mẹ có thể nghiên cứu, lựa chọn trường mầm non có phương pháp phù hợp nhất với điều kiện gia đình. Môi trường học tập tốt sẽ tạo tiền đề thuận lợi giúp các con phát triển trong cả quá trình lớn lên và trưởng thành sau này. Anh Thư Tổng hợp
biện pháp giáo dục lứa tuổi thiếu niên